PDA

Hiển thị phiên bản đầy đủ : Định giá phần mềm: Càng thực hiện càng vướng


dungtk
19-08-2009, 12:45 PM
Văn bản 3364 được Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành tháng 10/2008 hướng dẫn định giá phần mềm áp dụng trong các dự án ứng dụng công nghệ thông sử dụng ngân sách nhà nước, nhưng đến nay, các đơn vị vẫn chưa thể áp dụng được do văn bản... quá phức tạp. Sự cần thiết của văn bản 3364

Từ năm 2003 trở về trước, giá trị phần mềm trong khối cơ quan nhà nước được hướng dẫn xác định và lập dự toán kinh phí xây dựng phần mềm ứng dụng theo văn bản 112 (thuộc đề án 112- PV). Tuy nhiên do những hạn chế của văn bản 112 nên phương pháp tính giá trị phần mềm đã không còn được áp dụng.

Từ đó đến thời điểm ra văn bản 3364 thì chưa có một văn bản pháp lý nào cho định giá phần mềm, trong khi công nghệ thông tin phát triển rất nhanh, trung bình 25%/năm, vì vậy, khi Bộ Thông tin và Truyền thông cho ra văn bản 3364, được đánh giá có vai trò quan trọng trong việc thực hiện giải quyết đầu tư ứng dụng và phát triển phần mềm sử dụng ngân sách Nhà nước.

Một văn bản hướng dẫn định giá phần mềm sẽ là cơ sở để chuẩn hóa dần việc quản lý đầu tư công nghệ thông tin. Vì thực tế, vấn đề định giá phần mềm vẫn đang là một bài toán phức tạp ảnh hưởng không ít và làm chậm tiến độ đến việc triển khai các dự án công nghệ thông tin.

Khi có phương pháp tính toán hợp lý, khách quan, giá trị phần mềm được xác định sẽ tạo cơ sở cho việc lập chi phí ứng dụng công nghệ thông tin của khối các cơ quan nhà nước và thúc đẩy thực hiện các dự án đầu tư, kí kết hợp đồng hay nâng cấp phần mềm.

Trong văn bản 3364 của Bộ đã đưa ra 10 bước trình tự để áp dụng vào xác định giá trị phần mềm như: nghiên cứu, kiểm tra thông tin hồ sơ dự án phần mềm; lập bảng tính toán các tác nhân tương tác, các chức năng của phần mềm; lập bảng tính toán hệ số phức tạp kỹ thuật, công nghệ; xác định mức lương lao động bình quân; phát triển, nâng cấp, chỉnh sửa phần mềm...
Ông Võ Anh Trung, Trưởng phòng phát triển ứng dụng, Cục Tin học và thống kê tài chính (Bộ Tài chính) cho biết, trước đây các dự án công nghệ thông tin của Bộ được sử dụng định giá phần mềm chủ yếu trên hướng dẫn của văn bản 112 và sau thời điểm 2003, Cục lại thực hiện định giá phần mềm theo theo cách tính truyền thống. Nhưng ngay sau khi nhận được 3364 Cục đã lập tức hướng dẫn cho các đơn vị trong ngành thực hiện với hy vọng gỡ vướng mắc trong lập dự án xác định giá trị phần mềm.
Càng định giá càng "rối"

Mặc dù văn bản 3364 là rất cần thiết, tuy nhiên khi đi vào thực tế lại không như mong muốn của các đơn vị khối cơ quan Nhà nước. Bởi phương pháp và các bước định giá giá trị phần mềm của 3364 quá phức tạp và không sát thực tế với những tính chất phát sinh, phát triển của phần mềm trong quá trình triển khai, bảo dưỡng hay nâng cấp.

Theo ông Võ Anh Trung, bảng tính toán giá trị phần mềm quá phức tạp, khi công văn 3364 ra đời, Cục Tin học và thống kê tài chính đã gửi ngay cho các đơn vị thử tính theo cách này, nhưng các đơn vị đã không thể tính được nên lại đành áp dụng theo cách truyền thống là định giá phần mềm theo chức năng.

Ông Trung phân tích, thực tế, không phải lúc nào giá trị phần mềm cũng được xác định theo quy trình, nghiệp vụ đơn giản thông thường mà phải qua các bước khảo sát, phân tích. Còn nếu tách ra từng phần cụ thể rồi tính thì sẽ kéo dài quy trình đầu tư công nghệ thông tin trong khi mức độ thay đổi lại thường xuyên, nhất là các văn bản trong ngành thuế.

Ông Nguyễn Long, Tổng Thư ký Hội Tin học Việt Nam cho biết, đã có rất nhiều đơn vị phản ánh về sự phức tạp, chưa bao quát được vấn đề của văn bản 3364, dẫn đến phần mềm bị định giá thấp. Trong đó, phần định mức toàn bộ chi phí về sau như thế nào thì trong 3364 chưa có, mới chỉ bao quát được giai đoạn đầu mà chưa cụ thể hóa từng công đoạn xây dựng phần mềm, từ khâu khảo sát, phân tích, thiết kế hệ thống đến triển khai bảo hành, bảo trì.

Hơn nữa, việc chưa bao quát hết các khâu trong quy trình sản xuất phần mềm của văn bản 3364 còn dẫn đến việc phần mềm bị đánh giá thấp, khiến các nhà đầu tư không mặn mà với các dự án công nghệ thông tin của các đơn vị Nhà nước.

Sự phức tạp của 3364 được bà Nguyễn Thị Thuận, Phó cục trưởng Cục Ứng dụng Công nghệ thông tin, Tổng cục Thuế đánh giá, việc xác định chi phí phần mềm, trong hướng dẫn mới chỉ dừng lại ở khảo sát, thiết kế, phân tích, xây dựng, ứng dụng, còn những công việc khác như bảo trì, bảo dưỡng, nâng cấp... trong triển khai phần mềm chưa được tính đến.

Theo bà Thuận, văn bản hướng dẫn định giá nên chia ra hai loại: xây dựng phần mềm mới và nâng cấp phần mềm, vì nâng cấp có thể bớt đi một số công đoạn có trong hướng dẫn, còn xây dựng phần mềm mới thì lại thiếu nhiều công đoạn mà trong hướng dẫn chưa có.

Ông Nguyễn Long cho biết, Hội Tin học và các đơn vị liên ngành của Bộ sẽ tiếp tục thu thập, lấy ý kiến của các đơn vị liên quan để bổ sung điều chỉnh mới và hoàn thiện văn bản, phù hợp với thực tế để có thể nhanh chóng đưa vào áp dụng.


nguồn: http://tintuconline.vietnamnet.vn/vn/congnghe/401701/index.html


Các bạn ( đặc biệt là các bạn làm việc trong cơ quan NN ) cho ý kiến thảo luận nhé.

dungtk
19-08-2009, 01:32 PM
Bài viết trên là bài báo sau cuộc họp với sự tham gia của Hội Tin học Việt Nam và các cơ quan quản lý NN về công nghệ thông tin của Chính phủ và của từng ngành. Sau đây là một số ý kiến của cá nhân tôi :

Việc ứng dụng CNTT trong cơ quan NN đang được phát triển nhanh. Với sự ra đời của Bộ Thông tin và Truyền thông, cơ quan QLNN về CNTT tại Việt Nam, các chính sách về ứng dụng CNTT đang được xây dựng và có hiệu lực thi hành, đặc biệt là việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan NN với Nghị định 64/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan NN.

Một điều có thể dễ dàng nhận thấy, việc ứng dụng CNTT ở Việt Nam thực sự đang ở mức độ chưa cao về các sản phẩm CNTT mang tính đột phá, phát minh mà mới ở mức độ ứng dụng các giải pháp, kỹ thuật, phần mềm vv.. trên thế giới. Cũng đã từ rất lâu, chưa thấy một sản phẩm, đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực này thuần Việt để trở thành các sản phẩm thương mại mang tính toàn cầu, mặc dù trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, CNTT là ngành có lợi thế rất lớn.

Các thành tựu đạt được của ngành CNTT ở Việt Nam thời điểm này tập trung vào việc phát triển hạ tầng viễn thông với kết nối Internet ngày càng nhanh và rẻ, băng thông nội địa và quốc tế càng ngày càng được nâng cao, mở rộng với sự cạnh tranh khốc liệt của các doanh nghiệp NN và tư nhân trong lĩnh vực này. Tiếp theo là sự phát triển của nền công nghiệp nội dung còn non trẻ nhưng rất nhiều tiềm năng. Theo một thống kê mà tôi được đọc, hiện tại các ứng dụng CNTT chủ yếu ở VN là báo điện tử, game online, tin nhắn nội dung SMS (tải hình, nhạc chuông, java games vv… ) và mạng xã hội như Facebook, Yahoo!Plus vv…, các trang tin rao vặt, các forum về mọi mặt đời sống xã hội.

Vậy có thể thấy rằng, hiện tại băng thông chủ yếu của Việt Nam được sử dụng nhiều vào mục đích giải trí, chia sẻ thông tin cá nhân chứ chưa phục vụ được nhiều cho nhu cầu học tập, nghiên cứu ( sự thiếu vắng các hệ thống lưu trữ tài liệu, sách điện tử vv… ) và cho Chính phủ điện tử.

Để phân loại cho việc các website Bộ, Ngành, địa phương , Bộ TTTT đã đưa ra chỉ số 4 mức độ với dịch vụ công trực tuyến, với mức độ 4 là mức độ cao nhất sử dụng hình thức thanh toán trực tuyến. Tuy nhiên, đến thời điểm này theo tôi biết chưa có một dịch vụ công nào đáp ứng hoàn toàn tiêu chí mức độ 4, mức độ 3 còn rất ít và đang có một số đạt được ở mức độ 2.

Với các phân tích trên, nhu cầu cho việc ứng dụng CNTT trong cơ quan NN là rất lớn, nếu không nói rằng chiếm đa số thị trường phần mềm trong nước. Các doanh nghiệp dường như chưa thực sự quan tâm vào thị trường này. Các doanh nghiệp IT lớn nhất Việt Nam thì coi thị trường gia công phần mềm cho nước ngoài là thị trường chính thu hút một nguồn lực rất lớn của các kỹ sư CNTT càng làm cho việc ứng dụng CNTT trong cơ quan NN khó khăn hơn.

Tôi có đọc rất nhiều bài báo, nhận xét của các chuyên gia IT và quản lý IT trong nước nhưng chưa thấy một định hướng thực sự nào để phát triển thị trường sản phẩm CNTT phục vụ Chính phủ điện tử. Tôi nhấn mạnh là theo quan điểm cá nhân, đây phải là một thị trường với đầy đủ ý nghĩa của nó.

Việc phát triển các ứng dụng trong cơ quan NN hiện nay chủ yếu như sau :

Một là, các cơ quan NN đặc biệt là các cơ quan QLNN về CNTT ( có 9 Cục quản lý ứng dụng CNTT tại các Bộ, Ngành ) tự phát triển các ứng dụng phục vụ Bộ, Ngành mình. Phương pháp này có một lợi điểm rất cơ bản là các cơ quan này rất thấu hiểu nhu cầu của ngành, nắm vững nghiệp vụ …Tuy nhiên, nguồn lực CNTT trong cơ quan NN còn rất hạn chế, các cơ quan NN chưa phải là điểm đến thu hút với mức lương đãi ngộ như doanh nghiệp, điều kiện thăng tiến còn nhiều điểm phức tạp. Do vậy, tính ứng dụng của các sản phẩm thông thường trong phạm vi còn hẹp và chưa thực sự chuyên nghiệp, các Bộ Ngành làm trùng lặp nhau các sản phẩm chung mục đích là rất phổ biến (như các ứng dụng quản lý công văn, công việc , nhân sự vv… ).

Hai là, các doanh nghiệp nước ngoài coi thị trường NN là một thị trường tiềm năng. Các doanh nghiệp này thông thường có hẳn bộ phận phụ trách mảng khách hàng NN. Các doanh nghiệp này thông thường là doanh nghiệp lớn, có sản phẩm mang tính ứng dụng toàn cầu. Các doanh nghiệp này sẵn sàng đầu tư những số tiền lớn để tổ chức hội thảo, đưa cán bộ VN đi học các sản phẩm của họ trong và ngoài nước, khâu tiếp thị rất bài bản và chuyên nghiệp. Nhưng số lượng các sản phẩm này ứng dụng trong cơ quan NN còn hạn chế do thông thường các sản phẩm này có tính khái quát hóa cao để có thể sử dụng ở nhiều thị trường khác nhau về cách làm việc, văn hóa và các cán bộ VN vận hành các hệ thống này còn nhiều hạn chế về trình độ. Nói một cách khác, không phải các giải pháp này không tốt mà thông thường các cơ quan NN còn chưa làm chủ đựơc công nghệ.

Ba là, các doanh nghiệp Việt Nam cung cấp những sản phẩm như CMS ( để làm trang tin địên tử mà hiện nay nhiều nơi gọi là cổng điện tử), quản lý công văn, quản lý nhân sự và các nhu cầu đặt hàng của NN. Các doanh nghịêp này thông thường có sản phẩm có sẵn và tối ưu hóa theo yêu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, do phần kiến trúc hệ thống còn nhiều yếu điểm do không thực sự hiểu cơ chế làm việc hiện nay của NN nên dẫn tới trong nhiều trường hợp, càng sửa thì ứng dụng càng xa thiết kế ban đầu và dẫn tới phần mềm nhiều lỗi, an ninh bảo mật không được quan tâm đúng mức.

( Đã hết giờ nghỉ trưa, tôi xin viết tiếp vào ngày mai, mục tiêu là phân tích 3364 của Bộ TTTT theo ý cá nhân ).